Cảnh Trấn có Các lợi thế của sản xuất sứ cổ truyền
Cách
dưỡng ấm tử sa - Cảnh Trấn là nơi truyền thống với hơn 1700 năm sản xuất
đồ gốm sứ. Vào các năm Bắc Tống Chân Tông Cảnh Đức (1004-1007 trước CN), những
đồ sứ của nơi này được Chân Tông rất thích và ban thưởng, nên ở các đồ gốm này
thường có dòng chữ: Chế tạo vào năm Cảnh Đức, thế là Trấn Cảnh Đức được nổi danh
khắp thiên hạ…
Cảnh Trấn, nơi được mệnh danh là thủ đô sản phẩm sứ, nằm ở đông bắc thành phố Giang Tây, giáp Chiết Giang, An Huy (TQ) là một khu vực có truyền thống văn hóa lâu đời. Cảnh Trấn lại nằm ngay trung tâm khu thắng cảnh “ngũ sơn lưỡng hồ”: Hoàng sơn, Lư sơn, Long Hổ sơn, Tam Thanh sơn, Cửu Hoa sơn và hồ Thiên Đảo, hồ Bạc; là một trong các điểm vui chơi chất lượng nhất của Trung Quốc. Nhưng, Cảnh Đức Trấn lại có tiếng bởi đồ gốm sứ với hơn 1700 năm. Tên trấn liên quan đến sản phẩm gốm sứ: vào các năm Bắc Tống Chân Tông Cảnh Đức (1004-1007 trước CN), do các đồ gốm ở trấn này được Chân Tông thích và tán thưởng, trên những sản phẩm gốm sứ này thường đề khoản: chế tác vào năm Cảnh Đức, thế là mọi người đều gọi là trấn Cảnh Đức, Cảnh Trấn vì vậy có tiếng khắp thiên hạ. Từ xưa, nghệ thuật sứ trấn Cảnh Đức đã trở điểm sáng trong nền văn hóa nghệ thuật của Trung Quốc và ở thế giới.

trà thiết quan âm là gì
Văn hóa sứ Giang Tây và Trấn Cảnh Đức nói riêng :
Thành phố Cảnh Đức Trấn là nôi tạo ra nghệ thuật sứ và nghề chế tạo đồ gốm của Giang Tây, bắt đầu từ thời Hán. Tới đời Minh, Cảnh Đức Trấn đã chính thức trở thành “địa điểm thu hút của những xưởng gốm trong nước”.
Từ xưa, nghề gốm truyền thống của Cảnh Đức Trấn đều dựa trên các mẫu họa tiết, các bức vẽ của những nghệ sĩ ở cung hoặc dựa vào các mẫu hoa văn truyền thống trong dân gian, sau đó các thợ sẽ vẽ những họa tiết này lên phôi gốm sứ rồi mang nung thành gốm sứ. Do chất lượng đồ sứ đảm bảo, những thời Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, Trấn Cảnh Đức là nơi chuyên chế tác đồ gốm sứ cho hoàng cung.
Những sản phẩm gốm sứ vì vậy rất phát triển, đặc biệt là vào thời Minh, Cảnh Đức Trấn đã trở thành khu vực làm đồ sứ nhiều nhất của cả nước, sản phẩm gốm tạo ra không chỉ được ưa thích trong nước, mà còn nổi tiếng khắp thế giới, được các nước khác chào đón nhiệt liệt. Con đường gốm sứ trên biển cũng giống như đường tơ lụa ở đất liền, trở thành cầu nối chia sẻ văn hóa Đông Tây.
-->Lựa chọn ấm tử sa
Khoảng năm 1616-1911 của đời Thanh, nghề làm đồ gốm sứ Cảnh Trấn, cả về mặt tạo hình lẫn kỹ thuật bố trí đều trở nên nhuần nhuyễn điêu luyện, xuất thần nhập hoá “”hoa flẫn giữa xưa và nay, sáng tạo các mẫu mới, bố cục chon phối cảnh, màu sắc sắp xếp khéo léo, vẽ nhân vật, phong cảnh, hoa, chim đều vô cùng đẹp””. Chính từ sự hình thành cách luyện gốm “trắng như ngọc, sáng như gương, mỏng manh như giấy, vang như khánh” mà những sản phẩm này được gọi “ngọc bội”.
--->> Trà thiết quan âm
Ưu thế của vấn đề chế tác gốm sứ truyền thống tại Cảnh Trấn:
Những bạn nào đã tới Giang Tây, và nhìn tận mắt thấy họ sản xuất sản phẩm gốm đều biết nơi này thực sự sản xuất gốm cổ truyền. Ở Giang Tây, mỗi một xưởng làm một loại sản phẩm đặc trưng, không bắt chước nhau, không sản xuất hàng loạt ồ ạt. Những gia đình sản xuất sản phẩm gốm truyền thống ở Cảnh Đức Trấn rất quan tâm đến quá trình truyền nghề cho con cháu. Và đặc biệt trong mỗi một gia đình làm nghề họ rất quan tâm đến việc truyền nghề cho con cháu. Nên sản phẩm gốm của Giang Tây thường có được nét truyền thống. Và cũng vì vậy mà chi phí cho sản xuất thấp
Đây chính là những điểm khác biệt với cách sản xuất của Bát Tràng. Để hoàn thành một sản phẩm gốm sứ mới người Bát Tràng thường phải thuê hoạ sĩ vẽ mẫu. Phương pháp sản xuất này không duy trì được tính cổ truyền, khó tạo lên được những đồ gốm đặc trưng và chi phí chế tác cũng cao hơn. Một đôi lo lục bình cao 2,2 m chi phí sản xuất tại Giang Tây khoảng 1 triệu đồng VN, trong khi đó nếu Bát Tràng làm thì riêng tiền thuê hoạ sĩ đã là 1 triệu đồng để cho ra nhưng chiếc Ấm tử sa tại Hà Nội
Gốm sứ Bát Tràng từ xưa đã là một sản phẩm đặc trưng tại Hà Nội. Vì vậy việc rất nhiều xưởng sản xuất gốm Bát Tràng đã phải ngừng sản xuất không chỉ đang đe doạ tới sự mai mọt của một làng nghề cổ truyền tại Thủ đô mà nó còn đe doạ mất đi một điểm nghệ thuật đặc trưng của VN, mặt khác đồng nghĩa với điểm này còn là sự mất đi một địa điểm thu hút khách du lịch trong và ngoài nước.
Các lợi thế khác:
Hiện tại, đồ sứ càng phát triển, chẳng những được dùng như các đồ dùng mỗi ngày, mà còn sử dụng trong công nghiệp, kiến trúc và những loại gốm sứ đặc dụng. Sứ chiếm một vị trí trọng điểm trong nền kinh tế của trấn Cảnh Đức. Bên cạnh đó, nó còn có ưu điểm về các mặt như nguyên liệu, sản xuất, tiêu thụ, nghiên cứu khoa học, giáo dục… Hệ thống nghiên cứu gốm sứ càng ngày được cải thiện, đã tạo lên cơ cấu nghiên cứu 3 tầng: Viện nghiên cứu gốm thuộc tổng cục công nghiệp nhẹ quốc gia, Viện nghiên cứu sứ tỉnh Giang Tây, Viện nghiên cứu sứ trấn Cảnh Đức. Đồng thời lập lên trường cao đẳng duy nhất của Trung Quốc chuyên đào tạo nhân tài về gốm cao cấp – Học viện gốm sứ trấn Cảnh Đức.
--->Tổng hợp những dáng ấm tử sa
Sau thời cát cứ Ngũ Đại thập quốc, nhà Tống thống nhất đất nước, ngành sản xuất sản phẩm gốm sứ bước vào giai đoạn phát triển mới. Thời Tống là đỉnh điểm của đồ sứ Trung Quốc, trình độ chế tác có nhiều kỹ thuật mới, biện pháp trang trí mới, tạo ra những loại hình và hình dáng mới, tạo ra các hệ thống lò. Theo các ghi chép để lại cũng như các phát hiện khảo cổ cho thấy đến thời Tống, ở đất nước Trung Quốc đã phát triển 6 hệ thống xưởng gốm sứ là lò Định, lò Diệu Châu, lò Quân, và lò Từ Châu ở phía Bắc, hệ thống lò gốm xanh Long Tuyền và sứ trắng xanh Trấn Cảnh Đức ớ phía Nam.
Bài viết này sẽ giới thiệu đến quý khác lò Cảnh Đức Trấn, một trong những ngũ đại danh niêu thời Tống và lịch sử phát triển của lò này.
Cảnh Đức Trấn là một trung tâm sản xuất gốm sứ hàng đầu của Trung Hoa, xuất hiện từ rất sớm, theo một số sách thì có thể là từ thời Nam Triều, đến thời Đường đã nung sứ trắng.Thời Tống thì Cảnh Trấn có tên là Tân Bình, sau đổi là trấn Xương Nam, đến thời Tống Chân Tông chuyển là Cảnh Đức Trấn. Vấn đề chuyển tên này có liên quan tới uy tín và chất lượng sản phẩm của lò, các sản phẩm của lò làm bằng sứ trắng để cung tiến nhà Vua, dưới đáy có ghi chú ” Cảnh Đức niêm tạo”. Do Cảnh Đức là niên hiệu của vua Tống Chân Tông, chính vì vậy nhà vua đã cho đổi tên trấn thành Cảnh Đức Trấn. Từ đó lò gốm sứ này không những có tên là gốm Cảnh Đức Trấn mà về tổ chức là “quan giám dân thiêu”, có nghĩa là dân nung quan quản lí. Có thể nói là Cảnh Đức Trấn là lò có tuổi đời xa nhất so với những lò sứ trên đất Trung Quốc, sản phẩm sứ của lò thường có phong cách đặc trưng riêng ở các thời kỳ. Xưởng Trấn Cảnh Đức thông fụng mạnh ở thời Tống và đạt đến cực phát ở thời Minh, Thanh và phát triển tới tận hiện nay.
---->>Tác dụng của trà xanh
Trong đời Tống, lò Trấn Cảnh Đức làm các loại gốm như sứ trắng, gốm sứ xanh, nhưng đặc trưng và nổi tiếng hơn cả là “thanh bạch sứ”, còn gọi là sứ trắng xanh. Sở dĩ gọi là gốm trắng xanh là bởi vì màu men của chúng nằm giữa trắng và xanh, tức là trong xanh có trắng, trong trắng có xanh. Xét từ hàm lượng sắt trong men thì nó gần với trắng hơn. Loại này cũng có tên là gốm sứ “ảnh thanh”. Đặc điểm nổi trội nhất của sứ ảnh thanh là thành cực mỏng, men màu trắng nhưng ánh lên sắc xanh, trên phôi khắc chìm hoa văn, trong ngoài đều hiện rõ.
Tới thời Nguyên, lò Cảnh Trấn vẫn phát triển mạnh, ngoài những sản phẩm sứ thanh bạch còn có “sứ thanh hoa” hay còn gọi là gốm hoa lam và “sứ men lý hồng”. Việc tìm ra men hồng đồng và men lam cô ban để sản xuất ra hai loại đồ gốm trên là sự cống hiến lớn cho ngành gốm Trung Quốc.
sứ thanh hoa thường sử dụng màu lam cô ban vẽ các đồ án hoa văn lên mặt phôi gốm sứ, sau đó quét men thấu quang lên và nung ở nhiệt độ cao để cho ra những sản phẩm sứ hoa lam dưới men. gốm sứ hoa lam có khả năng ra đời sớm hơn nhưng tới thời Nguyên thì mới đạt tới trình độ cao. Sự ra đời của gốm hoa lam cũng dần loại bỏ những biện pháp khắc họa hoa văn trước đấy như khắc, vạch và in.
--->đất tử sa nghi hưng
Vào thời Minh, gốm thanh hoa phát triển cực thịnh, mà đặc trưng là gốm sứ thanh hoa Trấn Cảnh Đức, đặc trưng nổi bật của sứ thanh hoa là vẽ màu dưới men nên màu sắc không bị bong và biến màu. Màu hoa lam thường sử dụng oxit cô ban, nhưng Trấn Cảnh Đức không sử dụng trực tiếp oxit cô ban, mà dùng một loại khoáng cô ban tự nhiên. Trong khoáng cô ban, ngoài oxit cô ban là chính ra, còn có một tỉ lệ nhỏ oxit sắt, oxit mangan. Tuy là phụ nhưng nó làm cho màu lam phớt lục, co khi lai điểm thêm những chấm đen nhỏ, tăng thêm phần mỹ quan.
Ở các nguồn khoáng thiên nhiên có oxit khác nhau thì màu lam hiện lên cũng không giống nhau, Vì thế mà hoa lam thời Tuyên Đức và hoa lam thời Khang Hy không như nhau là đó.
Đồ sứ thanh hoa Cảnh Trấn thời Minh được chế tạo rất công phu. quá trình lựa chọn khoáng cô ban, nghiền thành bột và nung được tiến hành hết sức nghiêm ngặt.
Quá trình chế tác ra một sản phẩm cũng được tiến hành rất công phu. Từ khi khai khoáng cho tới quá trình tạo hình và cho ra sản phẩm đều rất tỉ mỉ, chi tiết và cẩn thận đến từng chi tiết.
Cảnh Trấn, nơi được mệnh danh là thủ đô sản phẩm sứ, nằm ở đông bắc thành phố Giang Tây, giáp Chiết Giang, An Huy (TQ) là một khu vực có truyền thống văn hóa lâu đời. Cảnh Trấn lại nằm ngay trung tâm khu thắng cảnh “ngũ sơn lưỡng hồ”: Hoàng sơn, Lư sơn, Long Hổ sơn, Tam Thanh sơn, Cửu Hoa sơn và hồ Thiên Đảo, hồ Bạc; là một trong các điểm vui chơi chất lượng nhất của Trung Quốc. Nhưng, Cảnh Đức Trấn lại có tiếng bởi đồ gốm sứ với hơn 1700 năm. Tên trấn liên quan đến sản phẩm gốm sứ: vào các năm Bắc Tống Chân Tông Cảnh Đức (1004-1007 trước CN), do các đồ gốm ở trấn này được Chân Tông thích và tán thưởng, trên những sản phẩm gốm sứ này thường đề khoản: chế tác vào năm Cảnh Đức, thế là mọi người đều gọi là trấn Cảnh Đức, Cảnh Trấn vì vậy có tiếng khắp thiên hạ. Từ xưa, nghệ thuật sứ trấn Cảnh Đức đã trở điểm sáng trong nền văn hóa nghệ thuật của Trung Quốc và ở thế giới.

trà thiết quan âm là gì
Văn hóa sứ Giang Tây và Trấn Cảnh Đức nói riêng :
Thành phố Cảnh Đức Trấn là nôi tạo ra nghệ thuật sứ và nghề chế tạo đồ gốm của Giang Tây, bắt đầu từ thời Hán. Tới đời Minh, Cảnh Đức Trấn đã chính thức trở thành “địa điểm thu hút của những xưởng gốm trong nước”.
Từ xưa, nghề gốm truyền thống của Cảnh Đức Trấn đều dựa trên các mẫu họa tiết, các bức vẽ của những nghệ sĩ ở cung hoặc dựa vào các mẫu hoa văn truyền thống trong dân gian, sau đó các thợ sẽ vẽ những họa tiết này lên phôi gốm sứ rồi mang nung thành gốm sứ. Do chất lượng đồ sứ đảm bảo, những thời Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, Trấn Cảnh Đức là nơi chuyên chế tác đồ gốm sứ cho hoàng cung.
Những sản phẩm gốm sứ vì vậy rất phát triển, đặc biệt là vào thời Minh, Cảnh Đức Trấn đã trở thành khu vực làm đồ sứ nhiều nhất của cả nước, sản phẩm gốm tạo ra không chỉ được ưa thích trong nước, mà còn nổi tiếng khắp thế giới, được các nước khác chào đón nhiệt liệt. Con đường gốm sứ trên biển cũng giống như đường tơ lụa ở đất liền, trở thành cầu nối chia sẻ văn hóa Đông Tây.
-->Lựa chọn ấm tử sa
Khoảng năm 1616-1911 của đời Thanh, nghề làm đồ gốm sứ Cảnh Trấn, cả về mặt tạo hình lẫn kỹ thuật bố trí đều trở nên nhuần nhuyễn điêu luyện, xuất thần nhập hoá “”hoa flẫn giữa xưa và nay, sáng tạo các mẫu mới, bố cục chon phối cảnh, màu sắc sắp xếp khéo léo, vẽ nhân vật, phong cảnh, hoa, chim đều vô cùng đẹp””. Chính từ sự hình thành cách luyện gốm “trắng như ngọc, sáng như gương, mỏng manh như giấy, vang như khánh” mà những sản phẩm này được gọi “ngọc bội”.
--->> Trà thiết quan âm
Ưu thế của vấn đề chế tác gốm sứ truyền thống tại Cảnh Trấn:
Những bạn nào đã tới Giang Tây, và nhìn tận mắt thấy họ sản xuất sản phẩm gốm đều biết nơi này thực sự sản xuất gốm cổ truyền. Ở Giang Tây, mỗi một xưởng làm một loại sản phẩm đặc trưng, không bắt chước nhau, không sản xuất hàng loạt ồ ạt. Những gia đình sản xuất sản phẩm gốm truyền thống ở Cảnh Đức Trấn rất quan tâm đến quá trình truyền nghề cho con cháu. Và đặc biệt trong mỗi một gia đình làm nghề họ rất quan tâm đến việc truyền nghề cho con cháu. Nên sản phẩm gốm của Giang Tây thường có được nét truyền thống. Và cũng vì vậy mà chi phí cho sản xuất thấp
Đây chính là những điểm khác biệt với cách sản xuất của Bát Tràng. Để hoàn thành một sản phẩm gốm sứ mới người Bát Tràng thường phải thuê hoạ sĩ vẽ mẫu. Phương pháp sản xuất này không duy trì được tính cổ truyền, khó tạo lên được những đồ gốm đặc trưng và chi phí chế tác cũng cao hơn. Một đôi lo lục bình cao 2,2 m chi phí sản xuất tại Giang Tây khoảng 1 triệu đồng VN, trong khi đó nếu Bát Tràng làm thì riêng tiền thuê hoạ sĩ đã là 1 triệu đồng để cho ra nhưng chiếc Ấm tử sa tại Hà Nội
Gốm sứ Bát Tràng từ xưa đã là một sản phẩm đặc trưng tại Hà Nội. Vì vậy việc rất nhiều xưởng sản xuất gốm Bát Tràng đã phải ngừng sản xuất không chỉ đang đe doạ tới sự mai mọt của một làng nghề cổ truyền tại Thủ đô mà nó còn đe doạ mất đi một điểm nghệ thuật đặc trưng của VN, mặt khác đồng nghĩa với điểm này còn là sự mất đi một địa điểm thu hút khách du lịch trong và ngoài nước.
Các lợi thế khác:
Hiện tại, đồ sứ càng phát triển, chẳng những được dùng như các đồ dùng mỗi ngày, mà còn sử dụng trong công nghiệp, kiến trúc và những loại gốm sứ đặc dụng. Sứ chiếm một vị trí trọng điểm trong nền kinh tế của trấn Cảnh Đức. Bên cạnh đó, nó còn có ưu điểm về các mặt như nguyên liệu, sản xuất, tiêu thụ, nghiên cứu khoa học, giáo dục… Hệ thống nghiên cứu gốm sứ càng ngày được cải thiện, đã tạo lên cơ cấu nghiên cứu 3 tầng: Viện nghiên cứu gốm thuộc tổng cục công nghiệp nhẹ quốc gia, Viện nghiên cứu sứ tỉnh Giang Tây, Viện nghiên cứu sứ trấn Cảnh Đức. Đồng thời lập lên trường cao đẳng duy nhất của Trung Quốc chuyên đào tạo nhân tài về gốm cao cấp – Học viện gốm sứ trấn Cảnh Đức.
--->Tổng hợp những dáng ấm tử sa
Sau thời cát cứ Ngũ Đại thập quốc, nhà Tống thống nhất đất nước, ngành sản xuất sản phẩm gốm sứ bước vào giai đoạn phát triển mới. Thời Tống là đỉnh điểm của đồ sứ Trung Quốc, trình độ chế tác có nhiều kỹ thuật mới, biện pháp trang trí mới, tạo ra những loại hình và hình dáng mới, tạo ra các hệ thống lò. Theo các ghi chép để lại cũng như các phát hiện khảo cổ cho thấy đến thời Tống, ở đất nước Trung Quốc đã phát triển 6 hệ thống xưởng gốm sứ là lò Định, lò Diệu Châu, lò Quân, và lò Từ Châu ở phía Bắc, hệ thống lò gốm xanh Long Tuyền và sứ trắng xanh Trấn Cảnh Đức ớ phía Nam.
Bài viết này sẽ giới thiệu đến quý khác lò Cảnh Đức Trấn, một trong những ngũ đại danh niêu thời Tống và lịch sử phát triển của lò này.
Cảnh Đức Trấn là một trung tâm sản xuất gốm sứ hàng đầu của Trung Hoa, xuất hiện từ rất sớm, theo một số sách thì có thể là từ thời Nam Triều, đến thời Đường đã nung sứ trắng.Thời Tống thì Cảnh Trấn có tên là Tân Bình, sau đổi là trấn Xương Nam, đến thời Tống Chân Tông chuyển là Cảnh Đức Trấn. Vấn đề chuyển tên này có liên quan tới uy tín và chất lượng sản phẩm của lò, các sản phẩm của lò làm bằng sứ trắng để cung tiến nhà Vua, dưới đáy có ghi chú ” Cảnh Đức niêm tạo”. Do Cảnh Đức là niên hiệu của vua Tống Chân Tông, chính vì vậy nhà vua đã cho đổi tên trấn thành Cảnh Đức Trấn. Từ đó lò gốm sứ này không những có tên là gốm Cảnh Đức Trấn mà về tổ chức là “quan giám dân thiêu”, có nghĩa là dân nung quan quản lí. Có thể nói là Cảnh Đức Trấn là lò có tuổi đời xa nhất so với những lò sứ trên đất Trung Quốc, sản phẩm sứ của lò thường có phong cách đặc trưng riêng ở các thời kỳ. Xưởng Trấn Cảnh Đức thông fụng mạnh ở thời Tống và đạt đến cực phát ở thời Minh, Thanh và phát triển tới tận hiện nay.
---->>Tác dụng của trà xanh
Trong đời Tống, lò Trấn Cảnh Đức làm các loại gốm như sứ trắng, gốm sứ xanh, nhưng đặc trưng và nổi tiếng hơn cả là “thanh bạch sứ”, còn gọi là sứ trắng xanh. Sở dĩ gọi là gốm trắng xanh là bởi vì màu men của chúng nằm giữa trắng và xanh, tức là trong xanh có trắng, trong trắng có xanh. Xét từ hàm lượng sắt trong men thì nó gần với trắng hơn. Loại này cũng có tên là gốm sứ “ảnh thanh”. Đặc điểm nổi trội nhất của sứ ảnh thanh là thành cực mỏng, men màu trắng nhưng ánh lên sắc xanh, trên phôi khắc chìm hoa văn, trong ngoài đều hiện rõ.
Tới thời Nguyên, lò Cảnh Trấn vẫn phát triển mạnh, ngoài những sản phẩm sứ thanh bạch còn có “sứ thanh hoa” hay còn gọi là gốm hoa lam và “sứ men lý hồng”. Việc tìm ra men hồng đồng và men lam cô ban để sản xuất ra hai loại đồ gốm trên là sự cống hiến lớn cho ngành gốm Trung Quốc.
sứ thanh hoa thường sử dụng màu lam cô ban vẽ các đồ án hoa văn lên mặt phôi gốm sứ, sau đó quét men thấu quang lên và nung ở nhiệt độ cao để cho ra những sản phẩm sứ hoa lam dưới men. gốm sứ hoa lam có khả năng ra đời sớm hơn nhưng tới thời Nguyên thì mới đạt tới trình độ cao. Sự ra đời của gốm hoa lam cũng dần loại bỏ những biện pháp khắc họa hoa văn trước đấy như khắc, vạch và in.
--->đất tử sa nghi hưng
Vào thời Minh, gốm thanh hoa phát triển cực thịnh, mà đặc trưng là gốm sứ thanh hoa Trấn Cảnh Đức, đặc trưng nổi bật của sứ thanh hoa là vẽ màu dưới men nên màu sắc không bị bong và biến màu. Màu hoa lam thường sử dụng oxit cô ban, nhưng Trấn Cảnh Đức không sử dụng trực tiếp oxit cô ban, mà dùng một loại khoáng cô ban tự nhiên. Trong khoáng cô ban, ngoài oxit cô ban là chính ra, còn có một tỉ lệ nhỏ oxit sắt, oxit mangan. Tuy là phụ nhưng nó làm cho màu lam phớt lục, co khi lai điểm thêm những chấm đen nhỏ, tăng thêm phần mỹ quan.
Ở các nguồn khoáng thiên nhiên có oxit khác nhau thì màu lam hiện lên cũng không giống nhau, Vì thế mà hoa lam thời Tuyên Đức và hoa lam thời Khang Hy không như nhau là đó.
Đồ sứ thanh hoa Cảnh Trấn thời Minh được chế tạo rất công phu. quá trình lựa chọn khoáng cô ban, nghiền thành bột và nung được tiến hành hết sức nghiêm ngặt.
Quá trình chế tác ra một sản phẩm cũng được tiến hành rất công phu. Từ khi khai khoáng cho tới quá trình tạo hình và cho ra sản phẩm đều rất tỉ mỉ, chi tiết và cẩn thận đến từng chi tiết.
Comments
Post a Comment